Nhận thức và quản trị cảm xúc để bảo vệ tim


Nhận thức và quản trị cảm xúc để bảo vệ tim

Cảm xúc tiêu cực có thể gây hại đến tim. Ngược lại, cảm xúc tích cực như lòng biết ơn, tinh thần lạc quan và đồng cảm có thể giảm căng thẳng, giúp đưa trái tim vào trạng thái cân bằng.

Nhiều phát hiện gần đây trong ngành khoa học thần kinh hiện đại và nghiên cứu tim mạch đã cho thấy mối liên hệ giữa cảm xúc với sức khỏe thể chất. Trong đó, hình dáng của trái tim có thể bị thay đổi bởi cảm xúc và tâm trạng của chủ thể. Đồng nghĩa, thông qua nhận thức và quản trị cảm xúc, chúng ta hoàn toàn có thể bảo vệ cũng như cải thiện sức khoẻ của trái tim.

Tâm trí cân bằng, trái tim khoẻ mạnh

Cảm xúc tiêu cực có thể gây hại đến tim. Một phân tích tổng hợp năm 2014 từ 30 nghiên cứu quan sát tiền cứu (tiến hành trên 893.850 người từ 2 đến 37 năm) cho thấy, trầm cảm là dấu hiệu báo trước nguy cơ mắc bệnh mạch vành hoặc đau tim. Các sự kiện đau thương, sự lo lắng, tức giận, thất vọng và căng thẳng kéo dài trong công việc đều gây ra nguy cơ tim mạch tương tự với cơ chế tương đối giống nhau.

Trong trường hợp tệ nhất, cảm xúc tiêu cực có thể gây ra bệnh cơ tim do suy kích (stress cardiomyopathy), còn gọi là “Hội chứng tim vỡCơ tim của người mắc bệnh sẽ yếu đi và đôi khi bị suy tim sau khi trải qua đau khổ tột cùng, căng thẳng hay bất ngờ. Đồng thời, nguy cơ đau tim sẽ tăng gấp 21 lần trong 24 giờ trải qua sự mất mát của người thương yêu.

Ngược lại, cảm xúc tích cực như lòng biết ơn, tinh thần lạc quan và đồng cảm có thể giảm căng thẳng, giúp đưa trái tim vào trạng thái cân bằng. Sự lạc quan, cuộc sống có mục đích và tinh thần tích cực gắn liền với việc giảm nguy cơ gây bệnh mạch vành.

Đáng chú ý, một thí nghiệm tiến hành trên 97.253 phụ nữ khỏe mạnh trong hơn 8 năm cho thấy, những người lạc quan có nguy cơ mắc bệnh mạch vành thấp hơn, tỷ lệ tử vong do bệnh cũng thấp hơn 30% và tổng tỷ lệ tử vong thấp hơn 14%.

Ngược lại, người luôn sống trong sự hoài nghi và thù ghét người khác có nguy cơ tử vong sớm cao hơn, hoặc do ung thư hoặc do nguyên nhân khác.

Cách kinh nghiệm và suy nghĩ chi phối cảm giác

Để hiểu cách cảm xúc tác động đến cơ thể, trước hết cần biết chúng đến từ đâu. Trên thực tế, nhiều yếu tố gây phản ứng căng thẳng bắt nguồn từ tâm trí. Chính nhận thức và cách diễn giải của chủ thể về các sự kiện và trải nghiệm sẽ quyết định suy nghĩ, cảm xúc và rốt cục là hành vi của họ.

Về việc kinh nghiệm và suy nghĩ của chủ thể tác động đến cảm giác, có thể giải thích như sau: Cảm xúc, tức các phản ứng ban đầu và vô thức của cơ thể, khởi phát chỉ vài giây từ trung tâm hệ viền của não, cung cấp thông tin cho thuỳ trán – nơi chịu trách nhiệm lập kế hoạch và tạo ra ý nghĩa cho sự vật. Sau đó, cảm xúc sẽ giúp tạo nên cảm giác.

Theo Antonio Damasio – Chủ nhiệm Khoa thần kinh, Giáo sư tâm lý học, triết học và thần kinh học tại Đại học Nam California, cảm xúc khác với cảm giác. Ông cho biết, cảm giác là ý nghĩa mà chủ thể gán cho cảm xúc của mình dựa trên ký ức và niềm tin của họ, là “nhãn định danh” chủ quan mà chủ thể dán cho trải nghiệm cảm xúc của mình.

Ví dụ, nếu được yêu cầu nói trước đám đông, các phản ứng cảm xúc có thể xảy ra là tim đập nhanh hơn, căng cơ và bồn chồn. Sau đó, những cảm xúc vô thức này sẽ được giải nghĩa bởi tâm trí có ý thức của chủ thể và được dán lên nhãn định danh là “cảm giác sợ hãi”.

Nhìn nhận và gọi tên cảm xúc là một trong những bước đi cần thiết để cải thiện khả năng nhận thức cảm xúc của bản thân

Nhìn nhận và gọi tên cảm xúc là một trong những bước đi cần thiết để cải thiện khả năng nhận thức và quản trị cảm xúc của bản thân

Cảm xúc ảnh hưởng tới cơ thể ra sao?

Có thể xem cơ chế định danh cho cảm xúc dựa trên kinh nghiệm và suy nghĩ của chủ thể là để tự bảo vệ bản thân bằng hành động. Trên thực tế, tất cả cảm xúc đều gây phản ứng dây chuyền, phát đi tín hiệu thông qua xung điện và chất hoá học từ não, rồi dẫn truyền chúng đi khắp cơ thể bằng hệ thần kinh tự chủ, trước đây còn gọi là hệ thần kinh thực vật.

Các cơ quan trong cơ thể người đều được lập trình để nhận những tín hiệu nói trên thông qua các thụ thể được phủ khắp bề mặt của chúng. Đây là lý do tại sao một cảm xúc đơn lẻ như căng thẳng cũng có thể kích hoạt tín hiệu dẫn đến tình trạng viêm và kích hoạt tiểu cầu trong máu (dẫn đến hình thành cục máu đông), khiến tế bào của chủ thể già đi nhanh chóng hơn.

Cảm xúc cũng tác động đến chức năng của chính bộ não, gây ảnh hưởng đến khả năng tập trung, cách suy nghĩ, mức năng lượng, động lực, khả năng ngủ, sự thèm ăn và rốt cục là hành vi của chính chủ thể. 

Do đó, trạng thái tinh thần của chủ thể sẽ quyết định xu hướng tiến tới hay tránh khỏi việc tự chăm sóc bản thân, xu hướng tuân thủ các lựa chọn sống lành mạnh cũng như khả năng phát triển và duy trì các mối quan hệ xã hội.

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tính cách của chúng ta, vốn có thể bao gồm nhiều cách phản ứng mặc định của chúng ta với thế giới, là một trong các nguy cơ dẫn đến bệnh tim. 

Nhiều người có thể đã nghe về mối liên hệ giữa việc có tính cách loại A và nguy cơ mắc bệnh tim. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng chỉ một số đặc điểm của tính cách loại A mới có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim. Chúng là trầm cảm, lo lắng, tức giận và thù ghét. Đây đều là những yếu tố mạnh mẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh tim, trong đó trầm cảm là yếu tố góp phần mạnh nhất.

Dù vậy, tin vui là, thông qua luyện tập, chúng ta có thể “lập trình lại” và chỉnh sửa một số mặt trong cách phản ứng cảm xúc mặc định của chúng ta với thế giới. Thông qua đó, chúng ta có thể quản trị cảm xúc và giúp cơ thể dễ dàng điều chỉnh hành vi mang lại lợi ích cho bản thân nói chung và tim mạch nói riêng theo mong muốn của mình. Nên, khi học được cách nhận thức rõ ràng về trạng thái bên trong, chúng ta hoàn toàn có thể giúp bảo vệ trái tim của mình theo đúng nghĩa đen.





Theo Doanhnhansaigon

share-face-book

Add Comment